Bác sỹ điều trị bệnh cao huyết áp như thế nào?

Bác sỹ điều trị bệnh cao huyết áp như thế nào?

>>> Có thể bạn đang quan tâm: Công thức làm thạch dừa ngon.

Thông thường khi đo trị số huyết áp của bạn, nếu kết quả >140/90mmHg với nhiều lần đo trong nhiều ngày bạn có thể được xem là cao huyết áp. Nếu huyết áp của bạn không cao lắm tức khoảng 140/90-150/95mmHg với tình trạng chung là tốt và không mắc các bệnh làm xấu thêm tình trạng tim mạch, bạn có thể không dùng thuốc mà cần phải điều chỉnh cách sống. Nếu cao huyết áp hơn hoặc không cải thiện thì bác sĩ có thể xem xét điều trị thuốc ngay sau khi cân nhắc cẩn thận.

Điều chỉnh cách sống

Điều chỉnh chế độ ăn uống như giảm ăn mặn (<2,5g sodium chloride), giảm mỡ, giảm đường (nếu có tiểu đường); không uống quá nhiều bia rượu, chỉ uống với số lượng hạn chế để giúp có lợi cho sức khỏe của bạn (chừng 15ml rượu ethanol, 360ml bia/ngày).

Tập thể dục đều đặn là cách thức giảm cân, hoạt động thể lực aerobic hàng ngày 30-45 phút hầu hết các ngày trong tuần.

Ngưng hút thuốc lá.

Đời sống tinh thần thoải mái, nghỉ ngơi giải trí hợp lý.

Điều trị bằng thuốc hạ áp

Bác sĩ sẽ điều trị bệnh cao huyết áp bằng thuốc cho bạn khi trị số huyết áp khá cao.

Bác sỹ điều trị bệnh cao huyết áp như thế nào?

Bác sỹ điều trị bệnh cao huyết áp như thế nào?

>>> Có thể bạn quan tâm: Các bước làm thạch rau câu ngon và chuẩn.

Một số thuốc hạ áp thường dùng:

– Nhóm thuốc lợi tiểu: Furosemid (Lasix, Lasilix) Hydrochlorothiazid (Hypothiazid) Indapamid (Natrilix SR)

– Nhóm thuốc ức chế calcium: Felodipine (Plenđil), Amlodipine (Amlor Amdepin, Amlopress)

– Nhóm Dihydropyridine: Nifedipine (Adalat, Procardia) chỉ nên sử dụng chế phẩm tác dụng kéo dài, không nên sử dụng các chế phẩm tác dụng ngắn đặc biệt là dạng ngậm dưới lưỡi pi không an toàn (gia tăng cơn đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim dẫn đến tử vong).

– Nhóm Không Dihydropyridine: Tildiem (Diltiazem), Verapamil (Isoptin)

– Nhóm thuốc ức chế men chuyển: Captopril (Lopril), Enalapril (Renitec), Lisinopril (Zestril), Peridopril (Coversyl)

– Nhóm thuốc ức chế beta giao cảm: Propranolol (Avlocardyl, Inderal), Atenolol (Tenormin), Metoprolol (Lopresor), Acebutolol (Secữal), Pindolol (Visken)

Việc lựa chọn thuốc hạ áp nào là phụ thuộc vào tình trạng huyết áp và tình trạng bệnh lý (bệnh tim, bệnh phổi, bệnh HA). Ví dụ, người có bệnh phổi như hen suyễn hoặc nhịp tim chậm (< 60 lần/phút) thì không nên sử dụng thuốc ức chế beta. Nhưng thuốc ức chế beta có lợi hơn ở những bệnh nhân cao huyết áp kèm thiếu máu cơ tim mà nhịp tim nhanh. Người bị suy tim thì thuốc ức chế men chuyển hóa có lợi hơn. Thuốc ức chế calcium Dihydropyridine thường được chỉ định rộng rãi vì ít tác dụng phụ, nhưng tốt nhất nên sử dụng dạng tác dụng kéo dài. Nhóm Không Dihydropyridine (verapamil, diltiazem) có tác dụng tốt cho cao huyết áp kèm bệnh mạch vành, nhưng làm chậm dẫn truyền và suy giảm sức bóp của tim.

>>> Có thể bạn chưa biết: cách nấu lẩu bò ngon ngay tại nhà với công thức làm ngon chuẩn nhất.

Related Posts

About The Author

Add Comment